Mắt âm dương

Mắt âm dương – Chương 10.3


Trước Sau

Chương 10 phần 3

Hai người vắt chân lên cổ chạy về phía con đường nối liền với bình đài, hay nói một cách chính xác, con đường đó chính là một cánh tay khổng lồ của bức tượng. Họ chạy như điên, Dương Hoài Ngọc hiểu tình huống hiện tại, cũng bỏ chạy tháo thân, ba người đỏ mặt tía tai, tay chân cứng đờ, lần này đúng là chạy trối chết, chỉ chậm nửa bước là rơi xuống dưới sâu kia.
Họ quên hết tất cả, chỉ mải miết cắm đầu chạy, sương mù dần lùi lại phía sau, đuốc soi sáng đến đâu thì trước mắt lại thấy một đoàn bóng đen vụt qua đến đấy. Lũ quái vật kia thấy ánh sáng liền bỏ chạy, bọn họ chỉ kịp trông thấy một đoàn lố nhố những bóng đen, thoáng cái chúng đã biến mất không tăm tích.
Bình đài chấn động dữ dội, cả ba người đang cắm đầu chạy không kịp dừng lại, đều loạng choạng ngã lăn ra, hồi lâu không thể đứng dậy nổi. Tiếng chấn động rầm rầm vang lên không ngớt, ba người bò rạp ra tại chỗ nối giữa con đường với bình đài, trông thấy con đường nứt thành mấy mảnh, đất đá rào rào rơi xuống khu rừng phía dưới.
Cả ba người cùng sững sờ, giờ đây họ đã rơi vào cảnh tuyệt vọng vô bờ, con đường đi không thể đi được nữa, họ chỉ bất lực giương mắt nhìn con đường sống duy nhất của mình bị cắt đứt mà thôi. Nhị Rỗ đột nhiên hét lên: – Đực mặt ra đấy làm gì, không mau leo lên con chim sắt kia đi…
Một câu đủ khiến Vương Uy và Dương Hoài Ngọc sực tỉnh, cả ba lại cố ngồi dậy, giẫm lên những vết nứt ngang dọc trên bình đài, lao về phía con chim sắt. Lúc này trước mặt họ không có con đường sống nào tuyệt đối cả, hy vọng duy nhất chỉ là con chim sắt kia thôi. Vương Uy chẳng dám tin rằng chim sắt có thể bay, nhưng lúc này không còn cách nào khác hơn là dựa vào nó.
Nhị Rỗ đang đau bụng, nhưng vào thời khắc quan trọng này còn chạy nhanh hơn ai hết, gã nhảy lên chim sắt, rồi lại lôi Vương Uy và Dương Hoài Ngọc cùng lên. Những khối đá trên bình đài đã nứt vỡ vô số, không chịu nổi trọng lượng của bình đài nữa, đất đá rào rào rơi xuống, khắp nơi đều nghe thấy tiếng đá nứt ầm ầm.
Cái bầu sắt nơi bụng chim khá lớn, thừa chỗ cho ba người. Nhị Rỗ nằm bò lên bầu sắt loay hoay một hồi nhưng chim sắt vẫn không hề động đậy. Chợt phiến đá kê dưới chân chim sắt vỡ làm đôi không còn gì chống đỡ, liền trượt xuống. Vì bụng chim có ba người đang bám, quá nặng nề, nên chim sắt vừa rơi xuống đã lộn nhào. Ba người cuống quýt tóm lấy thành bầu, thân mình lộn nhào giữa không trung, cứ như vậy mà vùn vụt rơi xuống theo chim sắt.
Dương Hoài Ngọc đẩy Nhị Rỗ ra, leo lên trên cái bầu sắt, hai chân gác lên thành bầu, kẹp chặt vào khoảng giữa thành bầu và khung sắt bên dưới. Hai bên khuỷu tay cô gập lại, chống lên hai tấm sắt trên bầu, dùng sức ấn xuống. Vương Uy và Nhị Rỗ bị lộn ngược bên dưới, trông thấy trục truyền động ở giữa giá sắt bị tấm sắt dưới cái bầu thúc đẩy, chuyển động rất nhanh, mấy trục truyền động khác hợp thành từ lò xo và tấm sắt cũng rục rịch chuyển động theo. Tam giác bên dưới giá sắt từ từ giương ra, đôi cánh chim đang cụp bỗng xòe rộng, toàn thân nó rung lên bần bật khiến Vương Uy và Nhị Rỗ suýt nữa bị hất văng xuống dưới giá sắt.
Chim sắt lộn nhào hai vòng trên không trung rồi cất cánh bay lên,Vương Uy và Nhị Rỗ bị một loạt những động tác này của chim sắt làm cho hoa mắt chóng mặt, nghe Dương Hoài Ngọc giục họ mau mau leo lên thành bầu, cả hai vội định thần lại, vươn mình leo lên, mãi đến khi nằm vật ra trong bầu, không sứt mẻ gì, bấy giờ hai người mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Hai cánh tay trên đầu chim sắt vươn ra, hai hàng đèn bằng đồng hệt như một chuỗi đèn lồng xé tan bóng tối và sương mù. Dưới ánh đèn, Vương Uy và Nhị Rỗ trông thấy sương mù dày đặc trên không, chim sắt đang lượn vòng xuống, không khỏi than thở luôn miệng.
Nhị Rỗ xoắn chòm râu dê, hỏi Vương Uy:
– Chỉ huy ơi, chim sắt biết bay rồi nhé, giờ chỉ huy đã chịu tin những thứ trong bức vẽ kia chưa?
Vương Uy nói:
– Anh bảo, các đường nét trong bức tranh chính là những thứ đang ẩn náu trong màn sương mù kia ư?
Nhị Rỗ lắc đầu, rồi lại gật đầu, đáp:
– Không nói rõ được, cứ xem xem sao đã.
Nói rồi Nhị Rỗ nhìn chăm chú về phía trước, nhưng trong không gian dày đặc sương mù xen lẫn bóng tối mịt mùng, ánh đèn không có mấy tác dụng, chỉ có thể soi sáng một phạm vi rất hẹp, xung quanh vẫn là sương mù và bóng tối, ngoài ra không thấy gì khác.
Vương Uy vỗ vai Dương Hoài Ngọc, nói:
– Cô cho chim bay hơi nghiêng về phía trước một chút đi, tôi thấy sương mù ở kia hình như có vẻ khang khác, có thể mấy thứ trong sương mù kia đang ẩn náu ở đấy.
Dương Hoài Ngọc ngước lên, bất lực nhìn Vương Uy:
– Tôi đã thử rồi, nhưng không điều khiển nổi con chim sắt này, chỉ có thể làm cho cánh của nó dang ra hoặc khép lại thôi.
Nghe được lời này của Dương Hoài Ngọc, Nhị Rỗ nhảy dựng lên, kêu to:
– Quái gở như thế à? Này đồ tây rởm, tôi bảo, chút huyết mạch còn lại của anh em quân đoàn 24 chúng tôi đang ở trong tay cô đấy. Con chim sắt này đã bay được lên rồi, cô lén lút loay hoay với nó bằng ấy thời gian, lại nói là không điều khiển được nó, không thấy xấu hổ à? Cô liệu mà nghĩ cách, bằng giá nào cũng phải bắt nó lên phải lên, xuống phải xuống chứ.
Dương Hoài Ngọc mặc kệ Nhị Rỗ, vẫn giữ nguyên tư thế kỳ quái của mình, nằm bò ra trên cái bầu, chẳng hề động đậy, chim sắt tiếp tục từ từ lượn xuống phía dưới, không hề đổi hướng.
Lượn xuống hơn hai trăm mét, ánh đèn đã chiếu sáng được đến thân hình khổng lồ của bức tượng, chim sắt bắt đầu lắc lư tiến đến gần pho tượng hơn, nhưng Vương Uy phát hiện bụng bức tượng vẫn hoàn toàn lành lặn, không hề bị thủng, vội bảo Nhị Rỗ:
– Tại sao thế nhỉ?
Nhị Rỗ cũng ngớ ra, bụng bức tượng này không có lỗ thủng đã đành, cũng chẳng thấy mấy con quái vật biết bay ẩn núp sau màn sương mù bí hiểm kia xuất hiện, bọn họ dường như đã rơi vào một vùng đất chết vậy. Con chim sắt liên tiếp đụng vào bức tượng, hễ đụng vào lại rơi xuống mấy mét, lực va đập càng mạnh thì cánh chim sắt càng bị tổn hại nhiều chỗ, toàn thân nó nghiêng sang một bên, liêu xiêu bay xuống.
Giữa lúc ba người đang không biết phải làm sao, chợt trông thấy phía dưới chim sát bùng lên một ngọn lửa ngất trời, tiếp theo là một tiếng động vang rền, ba người ngồi trên chim sắt kinh ngạc trông thấy bụng bức tượng bị nổ, thủng ra một lỗ to. Ngay lúc ấy, trong bầu không phía trên cánh rừng ngầm vang vọng tiếng đất đá nứt vỡ, bức tượng khổng lồ hạ thấp xuống mấy trăm mét, con chim sắt chở theo ba người xuyên qua vòng lửa, bay vào bụng bức tượng.
Chim sắt chui vào lỗ thủng ở bụng bức tượng, không khí bên trong nồng nặc mùi thuốc súng, cay sè cả mũi. Chim sắt bay qua biển lửa, những tấm sắt quanh cánh bị lửa nung đỏ, ba người ở trên cái bầu sắt càng thêm khó chịu, cho dù bụng chim cách ngọn lửa khá xa, nhưng dưới tác động của nhiệt độ cao, tóc của ba người đều xoăn tít lại, toàn thân đỏ nhừ.
Chim sắt chui vào bụng tượng, rồi lượn dần xuống thấp, càng xuống dưới, không gian trong bụng tượng càng thu hẹp, khiến cánh chim sắt bị vướng víu, liên tiếp đụng vào vách đá bên thành bụng. Cánh chim vốn làm từ những tấm sắt cực mỏng, bị va đập như thế, đã có nhiều chỗ méo mó, khiến chim sắt mất hẳn thăng bằng.
Nhị Rỗ nhìn xung quanh, nói:
– Chúng ta đã xuống đến bắp chân tượng rồi, càng xuống dưới sẽ càng hẹp, chắc chắn chim sắt sẽ bị kẹt lại đó.
Không ngờ, Nhị Rỗ vừa dứt lời, chim sắt liền bị kẹt vào giữa mấy tảng đá, coi như hỏng hẳn.
Ba người bám lấy giá sắt, thân mình đu đưa lơ lửng giữa không trung. Cấu tạo của chim sắt không có những thanh sắt tấm sắt cứng cáp vững chãi, cái giá sắt vướng giữa mấy tảng đá này cũng phải khó khăn lắm mới chịu nổi trọng lượng của ba người. Hơn nữa, bộ khung bằng sắt được bố trí để xòe cánh ra khép cánh vào cũng chỉ to bằng chiếc đũa, rất dễ gãy gập.
Những ngọn đèn đồng trên cánh tay sắt đã gãy ngay khi chim vừa bay vào bụng tượng, còn lại vài ngọn bị va đập cũng tắt nốt. Lúc này họ đang ở giữa bóng tối dày đặc, hai chân lửng lơ giữa không trung, coi như hết đường sống. Khung sắt và lá sắt phía trên kia bắt đầu phát ra những tiếng gãy răng rắc, khiến ba người bên dưới sợ đến không dám nhúc nhích, chỉ e hễ hơi đung đưa thì khung sắt kia sẽ không chịu đựng nổi, rơi thẳng xuống dưới sâu.
Lúc cánh chim sắt bị kẹt, Vương Uy thấy rất rõ, tảng đá mà cánh chim bị kẹt vào cách họ hơn một mét về phía trên, mà khung sắt trên cánh đang lần lượt gãy từng nan một, nếu cứ treo lơ lửng trên không thế này, sớm muộn gì họ cũng chết. Muốn sống thì chỉ còn cách mạo hiểm leo lên những tảng đá kia, nhưng hành động đó rất nguy hiểm, nếu khung sắt kia không chống đỡ nổi, cả ba sẽ lập tức rơi xuống từ độ ấy trăm mét, chết không kịp ngáp.
Vương Uy bày tỏ ý định của mình với Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc, dù sao hiện giờ sinh mệnh của cả ba người cũng đang gắn liền với nhau, anh phải được hai người đồng ý mới dám hành động.
Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc đều hiểu, thà rằng đánh liều một phen còn hơn cứ treo mình lơ lửng giữa không trung chờ chết. Trước mắt chỉ mình Vương Uy là có thể dựa vào cảm giác để xác định vị trí tảng đá, chờ anh leo lên được, rồi sẽ giúp sức lôi hai người kia lên.
Ba người bàn bạc xong, Vương Uy không chần chừ, nắm ngay lấy môt khung sắt hình tam giác ngược trên giá, vận lực vào hai tay, leo qua ba, bốn khung sắt tam giác ngược khác. Sau một loạt động tác ấy của Vương Uy, tiếng thanh sắt gãy răng rắc vang lên liên hồi, bụi đất trên đầu rào rào rơi xuống, chim sắt có thể gãy gập bất cứ lúc nào, Dương Hoài Ngọc và Nhị Rỗ ở bên dưới, sợ đến không dám động đậy, nhắm nghiền mắt lại.
Vương Uy cũng sợ đến nỗi tay chân mềm nhũn, phải cố lấy lại dũng khí, tự nhắc nhở bản thân rằng trong tay mình hiện giờ không phải chỉ nắm giữ sinh mệnh bản thân mà còn sinh mệnh của hai người kia, không thể có chút sai sót nào. Vương Uy dựa vào cảm giác trong khoảnh khắc những ngọn đèn đồng phụt tắt, xác định vị trí chính xác tảng đá, đoạn leo qua hơn chục bậc tam giác ngược, cuối cùng cũng trèo lên được tảng đá lớn.
Vương Uy cố sức vươn mình trèo lên tảng đá lớn, đúng lúc ấy khung sắt kẹp giữa hai tảng đá lớn cũng gãy gập hoàn toàn. Anh nghe thấy một tiếng rắc chói tai, rồi tiếng chim sắt va vào tảng đá đánh ầm. Nãy giờ Vương Uy vốn luôn thấp thỏm lắng nghe tiếng khung sắt gãy răng rắc, vừa nghe thấy tiếng động lần này, anh vội kêu lên, lập tức nắm lấy cái tam giác đang rơi xuống.
Con chim sắt không có gì nâng đỡ, Vương Uy gần như phải chịu đựng sức nặng của cả nó và hai người kia, một tay anh ôm lấy trụ đá bên cạnh, một tay nắm chắc lấy chiếc giá tam giác. Nhưng sức người có hạn, toàn thân anh bị kéo căng ra hai phía tưởng như sắp bị xé làm đôi tới nơi. Thấy giá sắt cứ dần trĩu xuống, Vương Uy vội vàng nín thở nói vọng xuống:
– Tôi không ổn rồi, hai người mau bấu vào các khe rãnh trên vách đá leo lên, nhanh…
Vương Uy cố sức nói hết câu, rồi không giữ nổi con chim sắt nữa, anh đành buông tay. Anh tin rằng trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc chắc chắn đã bám được vào vách đá. Chim sắt rơi xuống, Vương Uy châm đuốc soi xuống dưới, thấy Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc đang nhoài người trên vách đá, tiến không được lui không xong. Giữa vách đá và tảng đá lớn nơi Vương Uy đứng không có chỗ nào bấu víu nên Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc vẫn chỉ có thể lơ lửng trên không.
Phía dưới hai người là vực sâu thăm thẳm, may mà trong bụng bức tượng không có sương mù. Vương Uy cắm bó đuốc vào kẽ đá, vươn hẳn nửa người ra mới nắm được tay Nhị Rỗ. Hai tay Nhị Rỗ bị sai khớp, trong chốc lát chưa thể bình phục, chịu đựng nãy giờ chắc chắn đã phải cố gắng lắm, bằng không hẳn đã rơi xuống vực từ lâu rồi.
Vương Uy nắm chặt tay Nhị Rỗ, cố lôi lên. Hai người vật lộn mất một lúc, mồ hôi vã ra đầm đìa, lòng bàn tay trơn nhẫy, mấy lần suýt thì tuột tay. Khó khăn lắm mới lôi được Nhị Rỗ lên, sau đó hai người tiếp tục lôi Dương Hoài Ngọc lên theo.
Ba người thoát hiểm leo lên được tảng đá lớn, trái tim đập thình thịch trong lồng ngực lúc này cũng đã yên tĩnh lại. Trong rừng, họ nhặt rất nhiều cành khô, đều là để chiếu sáng ở cái nơi không có ánh mặt trời này. Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc lại châm hai bó đuốc, có thể chiếu sáng toàn bộ tảng đá lớn. Tảng đá chìa ra khỏi vách đá, rộng chừng bốn năm mét vuông, phía trước hình như vẫn còn khối đá khác, nhưng lửa đuốc không soi đến nơi.
Họ quan sát kỹ bên dưới vách đá, chim sắt rơi xuống, không biết di cốt của nó đang ở đâu, chỉ thấy các mảnh sắt, mảnh tôn từ chim sắt rơi xuống giắt đầy các khe đá.
Vương Uy đến bên mép tảng đá lớn, thấy vách đá trước mặt đầy những tảng đá loại này, tất cả nghiêng nghiêng sắp thành hình vòng cung, vòng quanh vách đá chừng nửa vòng, không biết phía sau còn thông đến tận đâu. Rõ ràng đây là một con đường dẫn xuống dưới lòng đất. Phát hiện ra điều này, Vương Uy mừng rỡ, vội gọi Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc lại. Con đường vòng bên trong bắp đùi rỗng không của bức tượng cứ từng vòng từng vòng dẫn xuống dưới, ba người giơ đuốc, thận trọng đi trên những tảng đá. Kể từ chỗ hai tảng đá mà con chim sắt kẹt vào lúc trước, những tảng đá về sau cứ nhỏ dần, chỉ rộng không tới một mét, hơn nữa còn rất trơn, không cẩn thận là rơi xuống vực như chơi.
Tuy họ từ trên cánh tay bức tượng bay xuống chỉ kinh hoàng chứ không gặp phải chuyện gì hung hiểm, nhiều lần đã lướt qua bên cạnh tử thần, nhưng trong lòng vẫn lấy làm lạ về vụ nổ ở bụng tượng. Lúc bay vào vòng lửa, quả là họ có ngửi thấy mùi thuốc súng nồng nặc. Có điều sự thật này lại hoàn toàn khác với những miêu tả trong bức tranh trên lòng bàn tay tượng, bức vẽ bảo rằng muốn phá vỡ bụng tượng thì phải dựa vào những thứ trông như những đường nét kia, họ đoán rằng những đường nét ấy rất có thể là quái vật ẩn nấp trong sương mù, nhưng sự thật lại là một vụ nổ bất ngờ, nổ vỡ bụng bức tượng. Đó rõ ràng là thuốc nổ, một sản phẩm của văn minh hiện đại xuất hiện trong cánh rừng dưới lòng đất, khiến người ta cảm thấy thật khó hiểu, giống như bức tường chiến hào bằng đá trong rừng, khẩu súng trường của quân phiệt Bắc Dương, tất cả những thứ đó đều không hợp logic, nhưng lại thật sự tồn tại.
Ba người thận trọng đi trên những tảng đá, thứ nhất là để không bị rơi xuống vực, thứ hai là tảng đá này rất kỳ lạ, chắc chắn người thiết kế phải có mục đích gì khác. Bức tượng rỗng ruột thì còn có thể hiểu được, dù sao thì khoảng trống bên trong bức tượng nếu đắp đặc thì sẽ rất tốn kém. Nhưng khoảng trống bên trong bức tượng lại có một con đường vòng bằng đá dẫn xuống dưới, quả thật là kỳ quái, họ khó mà đoán được mục đích thực sự của những người tạo ra bức tượng này, cho nên chỉ mong có thể phát hiện ra chút manh mối bên trong bức tượng.
Họ đi lòng vòng bên trong chân tượng xuống phía dưới, cuối cùng cũng đi xuống đến mặt đất, nhưng họ đều biết, mặt đất dưới chân họ đã nằm sâu bên dưới khu rừng trong lòng đất. Bức tượng cao như thế ít nhất nền móng phải ăn sâu xuống khoảng một trăm mét, nếu không bức tượng đâu thể đứng sừng sững suốt hàng nghìn năm nay. Dưới bức tượng có một hang động thẳng đứng, trong hang nước chảy róc rách, trong vắt đến độ có thể soi gương được. Ba người đi bên bờ sông, chợt thấy trước mặt có một bức tường. Bức tường không cao, chỉ chừng ba mét, nhưng lại chắn ngang dòng nước, chặn lối đi của bọn họ.
Nhị Rỗ trèo lên tường trước nhất, Vương Uy và Dương Hoài Ngọc đang ở bên dưới loay hoay giẫm lên các khối đá để leo lên, bỗng nghe Nhị Rỗ kêu thất thanh:
– Hỏng rồi…
Vương Uy và Dương Hoài Ngọc đều kinh ngạc, chỉ thấy Nhị Rỗ tái mặt, hồn xiêu phách lạc cưỡi lên tường, nhìn chằm chằm vào mặt tường bên kia. Vương Uy nói:
– Lại làm trò quỷ gì thế?
Nhị Rỗ nhìn xuống dưới, vẻ sợ hãi, nói:
– Mẹ kiếp, quả là quái gở, tôi vừa thấy một tấm bia âm dương.
Thấy Vương Uy ngớ người, Nhị Rỗ liền vẫy vẫy tay với anh, kéo anh lên. Vương Uy leo lên bức tường, quả nhiên thấy trên tường cắm một tấm bia đá. Bức tường này rộng chừng nửa mét, tấm bia kia như cái quạt hương bồ, mặt hướng ra ngoài có khắc mấy chữ Tạng, anh vươn cổ lại xem mặt trong, thấy mặt trong cũng có mấy chữ Tạng.
Vương Uy hỏi Nhị Rỗ: – Chữ viết gì thế?
Gương mặt Nhị Rỗ đang cứng đờ ra, chưa khôi phục lại được thần sắc cũ, nghe Vương Uy giục giã, gã đành đáp:
– Chữ ở mặt trước là “thiên đạo”, mặt sau là “địa ngục đạo”.
Vương Uy sốt ruột, nghi hoặc hỏi:
– Thiên đạo, địa ngục đạo là gì?
– Phật giáo Tây Tạng nói rằng, hư không pháp giới có lục đạo luân hồi, chia làm tam thiện đạo, tam ác đạo. Tam thiện đạo gồm nhân đạo, thiên đạo và atula đạo; tam ác đạo là địa ngục đạo, quỷ đạo và súc sinh đạo, bức tường này hình như là phân cách giữa thiện đạo và ác đạo.
Vương Uy gật đầu, một tấm bia không nói lên được điều gì, nhưng nó chôn sâu bên dưới bức tượng hơn trăm mét, lại chắn ngang giữa bờ sông, phía trước phía sau đều là bóng tối, khiến ai trông thấy cũng rờn rợn. Nhị Rỗ xoắn chòm râu dê trầm ngâm giây lát, Dương Hoài Ngọc nhìn hai người đang nói chuyện trên bức tường, không biết là nói gì, cô cũng chẳng buồn hỏi, chỉ lẳng lặng trèo lên.
Nghe Vương Uy giải thích những chữ Tạng trên tấm bia, cô gật đầu, chợt Nhị Rỗ nói:
– Tôi nghĩ, địa ngục đạo này là địa ngục sau khi chết mà ta vẫn thường nói, còn thiên đạo ở mặt trước tấm bia là chỉ cái gì nhỉ?
Câu hỏi của Nhị Rỗ, cũng là điều mà Vương Uy và Dương Hoài Ngọc lấy làm nghi hoặc, chẳng nhẽ đi từ đây lên phía trên bức tượng tức là lên trời, còn từ phía sau tấm bia này trở đi tức là đường xuống địa ngục sau khi chết? Vậy họ đi về phía ngục đạo, chẳng hóa ra tự mình đi xuống địa ngục hay sao?
Vấn đề lúc này không phải là đi theo thiên đạo hay địa ngục đạo, mà là bọn họ không còn đường nào để đi nữa, thiên đạo đã tuyệt đường, mà con đường gọi là địa ngục đạo này họ lại hoàn toàn mù mờ. Họ vốn lần theo tung tích vương triều Lạp Cách Nhật, nhưng tiến vào lòng đất mấy nghìn mét mà vẫn không thấy có gì liên quan đến vương triều Lạp Cách Nhật cả, ngược lại, còn gặp toàn những chuyện kỳ lạ, dẫn họ vào con đường không biết sống chết thế nào.
Theo thiên đạo đi xuống, họ đã bị mấy phen suýt chết, lâm vào tình cảnh không chống đỡ nổi. Vậy mà bức tường phân chia âm dương này lại bất ngờ cảnh cáo họ, đi về phía trước là địa ngục đạo. Thiên đạo còn như thế, huống hồ là địa ngục đạo, chắc hẳn những hung hiểm quái gở bên trong khó mà kể xiết.
Nhị Rỗ hoang mang nhìn Vương Uy, lại nhìn Dương Hoài Ngọc, muốn biết ý kiến của hai người. Vương Uy xua tay:
– Đi, đi xuống, dù sao cũng đã đặt chân lên đường chết rồi, dù thế nào cũng chết thôi.
Câu nói của Vương Uy khiến Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc thấy lòng trầm xuống, họ biết hoàn cảnh lúc này, đường lùi không còn, chỉ có thể tiến về phía trước mới mong sống sót. Nhưng con đường quái gở thông xuống địa ngục này, lại càng làm cho họ thêm phần lo lắng, sợ hãi.
Bức tường âm dương, phân cách âm dương, mà phía họ đang đi là địa ngục. Từng bước đi xuống địa ngục, tự mình chui vào rọ, liệu ai có thể thoải mái trong lòng?
Vương Uy nghiến răng, nhảy xuống, Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc cũng nhảy xuống theo.
Hai mặt bức tường âm dương chẳng khác gì nhau, trừ một bức tường kỳ dị chắn trên bờ sông, chẳng có thứ gì nữa cả. Cho dù không có thứ gì xuất hiện, nhưng ba người đi bên bờ sông vẫn cảm thấy âm u, lạnh lẽo.
Ba người đang mải miết đi về phía trước, bỗng Nhị Rỗ đá phải một vật gì đó mềm nhũn như cái túi da. Với kinh nghiệm tiếp xúc với xác chết bao nhiêu năm nay, đầu óc Nhị Rỗ căng lên, biết chắc đã đá vào xác chết.
Thấy Nhị Rỗ dừng lại, Vương Uy nghi ngờ giơ đuốc lên soi, quả nhiên trên mặt đất là một xác chết đen thui đang nằm. Vương Uy ngồi xuống xem xét, không khỏi hít một hơi khí lạnh. Nhị Rỗ cũng nhận ra vấn đề, chỉ thấy xác chết đầu đội mũ, trên người đắp một chiếc áo ngắn, sau lưng áo có chữ “binh” rất lớn.
Nhị Rỗ trợn mắt kinh ngạc, hỏi Vương Uy:
– Đây là xác lính nhà Thanh, lính nhà Thanh cũng rơi xuống đây à? Nơi này quả nhiên là địa ngục đạo, toàn là người chết.
Vương Uy lại không nghĩ như vậy, trong đầu anh chợt nhớ lại chuyện trong thung lũng tuyết, một người tây dẫn theo một tốp lính nhà Thanh từ từ đi ngang qua trước mặt anh, nhưng họ nhìn một người sống sờ sờ là anh mà như không thấy. Tình cảnh lúc đó vô cùng quỷ dị, thậm chí anh thấy bóng Nhị Rỗ từ sâu bên trong thung lũng tuyết đi tới, ấn tượng về khoảnh khắc ấy vẫn in đậm trong đầu, anh có thể khẳng định mình đã tận mắt thấy tất cả, hoàn toàn là sự thật, nhưng sau khi tỉnh lại, anh mới nhận ra mình đã bị dịch chuyển đi chỗ khác, rất kỳ quái.
Nhị Rỗ lật cái xác lên, xác chết đã hoàn toàn rữa nát, chỉ còn lại đống xương. Áo quần bằng vải gai trên mình cái xác vừa chạm vào đã mủn, chắc hẳn bị nước và hơi ẩm xâm thực, đã mục nát từ lâu rồi.
Vương Uy kể lại cho Nhị Rỗ nghe chuyện anh gặp trong thung lũng tuyết, Nhị Rỗ nói:
– Như vậy là những tên lính nhà Thanh này do Thomas đưa vào đây?
Vương Uy lén nhìn Dương Hoài Ngọc, thấy cô im lặng không nói năng gì, nhưng gương mặt lộ vẻ xúc động, cứ thẫn thờ dán mắt vào cái xác.
Nhị Rỗ nói với Dương Hoài Ngọc:
– Này, trước khi chết cha cô có để lại tài liệu nào nói những người ông ấy dẫn theo không phải người Tây, mà là lính nhà Thanh không?
Dương Hoài Ngọc nói:
– Chuyện này khi trước bác Tôn đã xác nhận rồi, cha tôi đem theo lính cờ xanh[1] vào núi. Hơn nữa, bác ấy còn nói riêng với tôi rằng cha tôi dựa vào địa vị của mình trong Hoàng gia Anh, yêu cầu quân đồn trú cử một nghìn lính cờ xanh đi theo.
[1] Lính của nhà Thanh đồn trú tại địa phương dùng cờ xanh làm hiệu – ND.
Vương Uy và Nhị Rỗ nhìn nhau, một nghìn quân, thật là kỳ dị. Năm xưa, đại tướng quân Trương Tử Thông đem theo năm nghìn quân tinh nhuệ vào hẻm núi lớn của dãy Đường Cổ Lạp, còn Thomas lại đem theo một nghìn quân cờ xanh, đội đào trộm mộ của Mã Văn Ninh cũng có một nghìn người. Kỳ lạ hơn nữa là, nhiều người như vậy tiến vào vùng núi tuyết nhưng không có một ai trở về, tất cả đều vùi xác trong hẻm núi lớn.
Từ lúc tiến vào hang động ngầm, ba người đã dần dần đi sâu hiểu rõ hơn về thế giới bí ẩn dưới lòng đất này, nhưng càng biết nhiều càng thấy mê thành rùng rợn này thật quái gở. Những chuyện ly kỳ nhiều đến nỗi họ không ứng phó nổi, nhưng tại sao Trương Tử Thông và Mã Văn Ninh lại đem nhiều quân lính vào hang sâu như thế thì họ chưa hề nghĩ đến. Lại thêm Thomas đem một nghìn quân cờ xanh tới, sự việc càng trở nên không tài nào hiểu nổi. Đúng ra, nếu muốn tìm hiểu bí mật của vương triều Lạp Cách Nhật, Thomas cũng không cần phải làm to chuyện như vậy, nhiều lắm chỉ đem theo một đội thám hiểm mấy chục người là đủ. Đem theo hơn một nghìn binh mã, hình như mục đích không hề đơn giản.
Nhị Rỗ lật đi lật lại cái xác, nhưng không thấy gì cả, chỉ có một đống xương cùng nắm vải mục.
Vương Uy giục Nhị Rỗ và Dương Hoài Ngọc rảo bước au, chắc chắn phía trước còn có phát hiện mới. Họ đi thêm một quãng, lại thấy hai xác chết bên bờ sông, hơn nữa hai xác chết này hết sức kỳ lạ, hai tên lính dùng dao đâm vào ngực nhau, nằm ngửa trên mặt đất.
Hai xác chết này chỉ mới phân hủy rất ít, vẫn có thể trông rõ vẻ mặt của họ. Cả hai đều mở to mắt nhìn nhau, dồn hết sức chú ý vào gương mặt đối phương, lưỡi dao đâm ra hời hợt, ánh mắt họ nhìn nhau không hề có thù oán, ngược lại còn hết sức bình tĩnh, bình tĩnh như đang ngồi uống rượu tán phét với nhau vậy.
Nhị Rỗ nói:
– Hai người này hình như chết sau tên lính nhà Thanh kia rất lâu, nhưng dù lâu thế nào đi nữa thì mức độ phân hủy cũng không chậm như thế chứ?
Chuyện này kể ra thực vô cùng kỳ dị, Thomas tiến vào hẻm núi lớn của dãy Đường Cổ Lạp từ hơn hai mươi năm trước, thời gian hai mươi năm đủ cho xác một nghìn tên lính phân hủy chỉ còn lại bộ xương, thậm chí xương cũng không còn. Nhưng hai xác chết này vẫn chưa phân hủy, đúng là chuyện không thể hiểu nổi.
Không có cách nào nghiên cứu rõ ràng về cái xác được, ba người lại tiếp tục men theo hướng dòng chảy, đi sâu xuống dưới lòng đất. Càng đi họ càng thấy lạnh, thật vô cùng kỳ lạ, nước sông vẫn chảy rất chậm, thỉnh thoảng còn có thể thấy một vài mảnh băng trôi.
Băng qua một cửa hang, thế giới trước mắt họ bỗng hoàn toàn đổi khác. Trong phạm vi soi sáng của ba bó đuốc, xuất hiện một vòm cửa hình vòng cung trong suốt, hai bên vòm cửa là hai bức tường băng vừa cao vừa to, ngước nhìn không biết cao đến chừng nào. Nhị Rỗ tiến lên thêm mười mấy mét, phát hiện bên trong vách động phía trước đâm xuyên vào sơn động, đều là những bức tường băng cao lớn như vậy.
Bước qua vòm cửa, họ hết sức kinh ngạc trước cảnh tượng bên trong. Ngay sau vòm cửa là hai bức tượng sư tử lớn được tạc bằng băng, mặt đất là một khối băng hoàn chỉnh, đi không cẩn thận sẽ trượt ngã. Cách hai pho tượng sư tử không xa là một cung điện băng rất nguy nga bề thế, ba người đến trước cung điện, lập tức cảm thấy bản thân vô cùng bé nhỏ.
Dương Hoài Ngọc ngước nhìn tòa cung điện hùng vĩ tráng lệ, run rẩy thốt:
– Đây là một cung điện băng khổng lồ dưới lòng đất sao!


Trước Sau
Loading...